Cuộc đua thu hút FDI 'tăng nhiệt', Philippines, Malaysia, Ấn Độ đều nhập cuộc cạnh tranh: Bộ trưởng Bộ Tài chính nói gì về mục tiêu thu hút 30-40 tỷ USD/năm vốn giải ngân của Việt Nam?

02/11/2026 12:30

"Cạnh tranh thu hút đầu tư giữa các quốc gia trong khu vực và trên thế giới đang diễn ra hết sức gay gắt", Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn nhấn mạnh tại phiên thảo luận, giải trình trước Quốc hội về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đầu tư.

Việt Nam cần thu hút bình quân khoảng 30-40 tỷ USD/năm vốn FDI giải ngân để đạt mục tiêu tăng trưởng hai con số

Sáng nay (31/10), Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn đã giải trình trước Quốc hội về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đầu tư. Phát biểu giải trình, tiếp thu ý kiến đại biểu Quốc hội tại phiên thảo luận ở hội trường về sự cần thiết sửa đổi Luật Đầu tư, Bộ trưởng Ngô Văn Tuấn cho biết, nhiều đại biểu Quốc hội đặt vấn đề vì sao Luật Đầu tư phải sửa đổi, bổ sung nhiều lần. Đến nay, Luật đã trải qua 16 lần sửa đổi, bổ sung.

Theo Bộ trưởng, trước đây, việc sửa đổi Luật chủ yếu tập trung vào cắt giảm điều kiện, thủ tục đầu tư, kinh doanh. Tuy nhiên, trong bối cảnh hiện nay, yêu cầu đặt ra không chỉ là tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh mà còn phải khơi thông các nguồn lực, huy động vốn đầu tư phục vụ mục tiêu tăng trưởng kinh tế.

Bộ trưởng Ngô Văn Tuấn nhấn mạnh, mục tiêu quan trọng của Luật Đầu tư là thu hút vốn và khơi thông nguồn lực để đáp ứng yêu cầu tăng trưởng trong từng thời kỳ. Đặc biệt, để đạt mục tiêu tăng trưởng kinh tế từ 10% trở lên trong giai đoạn tới, nhu cầu vốn đầu tư là rất lớn.

Theo tính toán được Bộ trưởng nêu, tổng vốn đầu tư toàn xã hội cần tăng khoảng 2,21 lần so với giai đoạn 2021-2025. Riêng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), Việt Nam cần thu hút bình quân khoảng 30-40 tỷ USD vốn giải ngân mỗi năm, không phải vốn đăng ký.

Bên cạnh yêu cầu tăng trưởng, việc sửa đổi Luật còn nhằm kịp thời thể chế hóa các nghị quyết của Đảng, nhất là Nghị quyết số 10-NQ/TW về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài (FDI), đáp ứng những yêu cầu mới về thu hút đầu tư, sử dụng nguồn lực đất đai và quy hoạch không gian phát triển.

"Một lý do đặc biệt quan trọng khác là cạnh tranh thu hút đầu tư giữa các quốc gia trong khu vực và trên thế giới đang diễn ra hết sức gay gắt". Bộ trưởng nhấn mạnh như vậy và dẫn chứng, Philippines, Malaysia cũng như nhiều quốc gia đang triển khai các cơ chế, chính sách ưu đãi nhằm thu hút đầu tư vào những lĩnh vực tương đồng với Việt Nam như điện tử, máy tính, điện thoại, chip bán dẫn và chuyển đổi số.

Ngoài khu vực, Ấn Độ cũng đang đẩy mạnh thu hút đầu tư với tham vọng trở thành trung tâm sản xuất điện thoại di động của thế giới, thông qua các chính sách hỗ trợ trực tiếp cho doanh nghiệp sản xuất.

"Chúng ta cần thu hút FDI thì các quốc gia khác cũng cần. Những lĩnh vực chúng ta ưu đãi thì họ cũng ưu đãi", Bộ trưởng nêu rõ, đồng thời cho rằng Việt Nam phải tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư và hoàn thiện chính sách ưu đãi để nâng cao năng lực cạnh tranh trong thu hút các dự án lớn, nhất là trong những ngành công nghệ cao.

Cuộc đua thu hút FDI 'tăng nhiệt', Philippines, Malaysia, Ấn Độ đều nhập cuộc cạnh tranh: Bộ trưởng Bộ Tài chính nói gì về mục tiêu thu hút 30-40 tỷ USD/năm vốn giải ngân của Việt Nam? - Ảnh 1.

Bộ trưởng Ngô Văn Tuấn nhấn mạnh, mục tiêu quan trọng của Luật Đầu tư là thu hút vốn và khơi thông nguồn lực để đáp ứng yêu cầu tăng trưởng trong từng thời kỳ (Ảnh: Quốc hội)

Dự thảo Luật Đầu tư: Tập trung vào các lĩnh vực công nghệ cao và chuyển đổi số

Về chất lượng dòng vốn, Bộ trưởng cho biết chính sách ưu đãi tập trung vào công nghệ cao, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và chuyển giao công nghệ. Thu hút đầu tư phải gắn với năng lực sản xuất trong nước, nâng tỷ lệ nội địa hóa và sự tham gia của doanh nghiệp Việt Nam vào chuỗi giá trị toàn cầu.

Liên quan đến chính sách ưu đãi đầu tư đặc biệt được nhiều đại biểu Quốc hội quan tâm, Bộ trưởng Ngô Văn Tuấn cho biết, dự thảo Luật hướng đến thu hút đầu tư vào những ngành, nghề, lĩnh vực ưu tiên, nhất là đổi mới sáng tạo, chuyển giao công nghệ, chuyển đổi số và công nghệ cao.

Tuy nhiên, bên cạnh quy mô vốn, thời gian và lĩnh vực ưu đãi, yêu cầu đặc biệt quan trọng là phải nâng cao chất lượng thu hút đầu tư, gắn hoạt động của doanh nghiệp FDI với phát triển sản xuất trong nước.

Theo Bộ trưởng, cần có những tiêu chí để thúc đẩy doanh nghiệp Việt Nam tham gia vào chuỗi giá trị của doanh nghiệp nước ngoài, qua đó nâng cao giá trị gia tăng và tác động lan tỏa của các dự án đầu tư đối với nền kinh tế.

Tiếp thu ý kiến của nhiều đại biểu Quốc hội về cơ chế kiểm soát chính sách ưu đãi đầu tư đặc biệt, Bộ trưởng khẳng định cơ quan soạn thảo sẽ tiếp tục hoàn thiện các quy định theo hướng "việc hỗ trợ đầu tư phải gắn với kết quả đầu ra", có thể kiểm tra, giám sát và lượng hóa được. Đặc biệt, phải quy định rõ các điều kiện chấm dứt ưu đãi, hỗ trợ trong trường hợp nhà đầu tư không đáp ứng yêu cầu, điều kiện hoặc không thực hiện đúng cam kết.

Theo Bộ trưởng, đây là vấn đề cần được quy định chặt chẽ ngay trong quá trình xây dựng chính sách, nhằm bảo đảm hiệu quả sử dụng nguồn lực hỗ trợ đầu tư, đồng thời hạn chế phát sinh tranh chấp, khiếu kiện. Bởi lẽ, khi nhà đầu tư đã được hưởng ưu đãi nhưng không đáp ứng các điều kiện cam kết, nếu thiếu cơ chế xử lý rõ ràng sẽ rất khó khăn trong quá trình thực hiện. Đặc biệt, các tranh chấp đầu tư quốc tế thường hết sức phức tạp.

Đối với vấn đề nới lỏng điều kiện tiếp cận thị trường cho nhà đầu tư nước ngoài, Bộ trưởng cho biết, cơ quan soạn thảo sẽ tiếp thu ý kiến của các đại biểu để hoàn thiện quy định. Những nội dung thuộc thẩm quyền của Quốc hội hoặc Ủy ban Thường vụ Quốc hội sẽ được Chính phủ tổng hợp, báo cáo cấp có thẩm quyền xem xét sửa đổi, bổ sung theo trình tự, thủ tục rút gọn, vừa bảo đảm đúng thẩm quyền, vừa đáp ứng yêu cầu tháo gỡ kịp thời các vướng mắc trong thực tiễn.

Khẳng định sẽ nghiêm túc tiếp thu đầy đủ các ý kiến đóng góp, Bộ trưởng Ngô Văn Tuấn cho biết, cơ quan chủ trì soạn thảo sẽ tiếp tục hoàn thiện dự án Luật, báo cáo Quốc hội xem xét, thông qua, bảo đảm các chính sách đầu tư vừa có sức cạnh tranh trong thu hút nguồn lực, vừa nâng cao chất lượng, hiệu quả và tính bền vững của các dự án đầu tư.