Mở rộng không gian phát triển ngành dầu khí
Những biến động địa chính trị trong thời gian qua cho thấy an ninh năng lượng không còn chỉ là câu chuyện bảo đảm nguồn cung dầu khí, mà đã trở thành một bộ phận quan trọng của an ninh quốc gia. Điều này cũng đặt ra yêu cầu xây dựng một hệ thống năng lượng đa dạng, linh hoạt và có khả năng chống chịu trước các cú sốc từ bên ngoài.
Trao đổi với Người Đưa Tin, TS. Bùi Trọng Vinh - Viện trưởng Viện Nghiên cứu Năng lượng bền vững, nguyên Trưởng khoa Kỹ thuật Địa chất và Dầu khí, Trường Đại học Bách khoa (ĐHQG Tp.HCM), những diễn biến căng thẳng kéo dài tại Trung Đông một lần nữa cho thấy an ninh năng lượng đã trở thành vấn đề sống còn đối với mọi quốc gia.
Ông Vinh phân tích, eo biển Hormuz hiện vẫn là một trong những điểm nghẽn năng lượng lớn nhất thế giới. Từ thực tế đó, ông cho rằng Việt Nam cần chủ động xây dựng an ninh năng lượng theo hướng đa nguồn, đa tuyến, đa công nghệ và có khả năng chống chịu cao; không phụ thuộc quá lớn vào nguồn nhập khẩu nhưng cũng không thể chỉ dựa vào một loại hình năng lượng duy nhất.

TS. Bùi Trọng Vinh - Viện trưởng Viện Nghiên cứu Năng lượng bền vững, nguyên Trưởng khoa Kỹ thuật Địa chất và Dầu khí, Trường Đại học Bách khoa, ĐHQG Tp.HCM (Ảnh: Internet).
Theo ông Vinh, bên cạnh việc duy trì khai thác dầu khí trong nước nhằm bảo đảm nguồn cung, Việt Nam cần đồng thời phát triển LNG, năng lượng tái tạo, điện gió ngoài khơi, hệ thống lưu trữ năng lượng, kho dự trữ chiến lược, hiện đại hóa lưới truyền tải và nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng.
Dẫn kinh nghiệm của Nhật Bản và Hàn Quốc, TS. Bùi Trọng Vinh cho rằng thành công của các nước này đến từ việc đa dạng hóa nguồn cung, phát triển điện hạt nhân, năng lượng tái tạo, hệ thống pin lưu trữ năng lượng (BESS), hydrogen và kho dự trữ chiến lược quy mô lớn.
Từ đó, TS. Bùi Trọng Vinh nhấn mạnh Việt Nam cần xây dựng một danh mục năng lượng quốc gia cân bằng, trong đó dầu khí tiếp tục giữ vai trò nền tảng bảo đảm an ninh năng lượng; LNG là nguồn điện chuyển tiếp; cùng với điện gió ngoài khơi, điện sóng, điện thủy triều, hydrogen xanh, amoniac xanh, hệ thống pin lưu trữ năng lượng (BESS), thủy điện tích năng và công nghệ thu giữ, lưu trữ carbon (CCUS).
“Nếu xây dựng thành công mô hình danh mục năng lượng quốc gia cân bằng, Việt Nam không chỉ nâng cao khả năng tự chủ năng lượng mà còn có cơ hội trở thành trung tâm năng lượng sạch của Đông Nam Á”, ông nhấn mạnh.

Việt Nam có cơ hội trở thành trung tâm năng lượng sạch của Đông Nam Á (Ảnh: PetroTimes).
Theo TS. Bùi Trọng Vinh, để hiện thực hóa mục tiêu trên, dự thảo Luật Dầu khí cần được hoàn thiện theo hướng mở rộng phạm vi điều chỉnh, không chỉ tập trung vào hoạt động tìm kiếm, thăm dò và khai thác dầu khí truyền thống mà còn tạo cơ sở pháp lý cho các lĩnh vực năng lượng ngoài khơi gắn với hạ tầng dầu khí hiện hữu.
Ông cho rằng luật cần thiết lập cơ chế khuyến khích tận dụng các mỏ dầu khí suy giảm để phát triển các dự án thu giữ và lưu trữ carbon (CCUS), hydrogen, amoniac xanh, đồng thời kết hợp khai thác dầu khí với điện gió ngoài khơi nhằm tối ưu hạ tầng và giảm chi phí đầu tư.
Đặc biệt, cần tạo cơ chế để các doanh nghiệp dầu khí chủ động đầu tư, liên doanh, liên kết trong các lĩnh vực năng lượng mới thay vì chỉ giới hạn trong hoạt động tìm kiếm, thăm dò và khai thác dầu khí.
Theo ông, việc tận dụng hệ thống đường ống, cảng chuyên dụng, kho chứa, các công trình biển cùng năng lực khảo sát, thiết kế và thi công đã được tích lũy nhiều năm sẽ giúp rút ngắn thời gian triển khai các dự án mới, nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực quốc gia và mở ra cơ hội đưa Việt Nam trở thành trung tâm năng lượng sạch của khu vực.
Năng lượng phải trở thành động lực tăng trưởng mới
Theo ông Tạ Đình Thi - Phó Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội, những định hướng lớn của Trung ương và Quốc hội về phát triển kinh tế biển, tăng trưởng xanh, ứng phó biến đổi khí hậu và phát triển bền vững đang đặt ra yêu cầu mới đối với ngành dầu khí - năng lượng.
Trong giai đoạn hiện nay, ngành dầu khí không chỉ thực hiện nhiệm vụ bảo đảm an ninh năng lượng mà còn phải chủ động chuyển đổi, phát triển các lĩnh vực mới, nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên và làm chủ công nghệ.
Đây là thời điểm ngành dầu khí cần thay đổi tư duy phát triển, mạnh dạn nghiên cứu, đề xuất các mô hình phù hợp để đưa Petrovietnam trở thành tập đoàn công nghiệp - năng lượng có năng lực cạnh tranh trong khu vực và quốc tế.
“Sự thay đổi này không chỉ là yêu cầu đối với một doanh nghiệp, mà còn phản ánh sự chuyển biến trong cách nhìn nhận vai trò của doanh nghiệp nhà nước trong giai đoạn phát triển mới. Các tập đoàn kinh tế lớn không chỉ thực hiện nhiệm vụ sản xuất, kinh doanh mà còn phải đóng vai trò dẫn dắt, mở đường cho những lĩnh vực mới, góp phần nâng cao năng lực tự chủ của nền kinh tế”, ông Tạ Đình Thi nhấn mạnh.

Ông Tạ Đình Thi - Phó Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội (Ảnh: Media Quốc hội).
Theo ông Tạ Đình Thi, một trong những yêu cầu quan trọng hiện nay là chuyển đổi tư duy phát triển ngành dầu khí, từ mô hình tập trung vào chuỗi giá trị truyền thống gồm tìm kiếm, thăm dò, khai thác và chế biến sang phát triển chuỗi giá trị năng lượng tích hợp.
Trong nền kinh tế năng lượng mới, giá trị không chỉ nằm ở tài nguyên dưới lòng đất mà còn nằm ở công nghệ, dữ liệu, hạ tầng, năng lực vận hành và khả năng kết nối chuỗi cung ứng. Đây cũng là hướng đi phù hợp với xu thế chuyển dịch năng lượng toàn cầu khi các quốc gia không chỉ tìm kiếm nguồn cung năng lượng ổn định mà còn hướng tới các mô hình phát triển ít phát thải, hiệu quả và bền vững hơn.
Việt Nam có nhiều lợi thế để phát triển các ngành năng lượng mới, đặc biệt là các lĩnh vực gắn với không gian biển. Với hơn 3.260 km bờ biển cùng vùng biển rộng lớn, Việt Nam có điều kiện phát triển các chuỗi giá trị năng lượng ngoài khơi. Trong quá trình này, Petrovietnam có những lợi thế đặc biệt với hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật, kinh nghiệm hoạt động trong môi trường biển, năng lực khảo sát, thiết kế, thi công cùng đội ngũ chuyên gia được tích lũy qua nhiều năm.
Theo ông Thi, những nguồn lực này không chỉ phục vụ hoạt động dầu khí truyền thống mà còn có thể trở thành nền tảng để phát triển các lĩnh vực năng lượng mới như điện gió ngoài khơi, hydrogen, amoniac xanh hay các dự án giảm phát thải.
Bên cạnh yêu cầu đổi mới mô hình phát triển, việc hoàn thiện thể chế được xem là điều kiện quan trọng để mở rộng không gian cho ngành dầu khí - năng lượng trong giai đoạn mới.
Phó Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội cũng cho rằng, với những lĩnh vực còn mới như hydrogen, amoniac xanh, điện gió ngoài khơi hay công nghệ thu giữ, lưu trữ carbon, việc xây dựng hành lang pháp lý phù hợp là thách thức khi công nghệ và mô hình kinh doanh vẫn đang tiếp tục phát triển.
Do đó, cần nghiên cứu các cơ chế linh hoạt, trong đó có mô hình thử nghiệm có kiểm soát (sandbox), nhằm vừa bảo đảm yêu cầu quản lý rủi ro, vừa tạo điều kiện để doanh nghiệp thử nghiệm các mô hình đầu tư, công nghệ mới.
Vì vậy, việc sửa đổi Luật Dầu khí không chỉ nhằm tháo gỡ những điểm nghẽn trong hoạt động dầu khí truyền thống, mà còn hướng tới xây dựng nền tảng pháp lý để ngành dầu khí tham gia sâu hơn vào quá trình chuyển dịch năng lượng.
Bởi lẽ khi nguồn lực tài nguyên, hạ tầng, công nghệ, dữ liệu và năng lực doanh nghiệp được kết nối trong một khuôn khổ pháp lý phù hợp, ngành dầu khí có thể chuyển mình từ vai trò khai thác tài nguyên sang kiến tạo một hệ sinh thái năng lượng mới, góp phần bảo đảm an ninh năng lượng và nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế.
Thu Huyền - Thanh Loan




