Xử lý lợi ích nhóm, cho vay 'sân sau' thế nào?

19/09/2026 16:30

Cho vay “sân sau”, sở hữu chéo và lợi ích nhóm trong ngân hàng được nhận diện là vấn đề tồn tại nhiều năm. Chuyên gia cho rằng, bên cạnh kiểm soát tỷ lệ sở hữu và giới hạn cấp tín dụng, cần truy đến chủ sở hữu thực sự, làm rõ các mối quan hệ lợi ích phía sau khoản vay và áp dụng chế tài đủ sức răn đe.

Vì sao “sân sau” tồn tại?

Trao đổi với PV Tiền Phong, chuyên gia tài chính - ngân hàng Nguyễn Trí Hiếu cho rằng, hiện tượng cho vay “sân sau” hay còn gọi là lợi ích nhóm đã tồn tại hàng chục năm. Dù Ngân hàng Nhà nước nhiều lần đưa ra các biện pháp chấn chỉnh, tình trạng này đến nay vẫn chưa thể xử lý triệt để.

Theo ông Hiếu, khó khăn lớn nhất nằm ở việc các nhóm lợi ích có thể hình thành mạng lưới quyền lực và quan hệ rộng trong hệ thống ngân hàng. Đặc biệt, khi một số chủ ngân hàng đồng thời sở hữu hoặc có lợi ích tại các doanh nghiệp lớn, nhất là trong lĩnh vực bất động sản, nguy cơ hình thành hệ sinh thái doanh nghiệp để phục vụ các dự án, tập đoàn có thể xuất hiện.

“Cái khó nhất là họ xây dựng một hệ sinh thái rất phức tạp. Việc đầu tiên là tìm cách chiếm một tỷ lệ đủ lớn trong hội đồng quản trị của ngân hàng, qua đó có thể ảnh hưởng đến chính sách ngân hàng, việc phê duyệt hạn mức tín dụng cũng như các khoản vay cho tập đoàn của họ”, ông Hiếu phân tích.

Theo ông Hiếu, để che giấu mối quan hệ sở hữu và lợi ích, các nhóm này có thể sử dụng tên tuổi của những người không trực tiếp liên quan trên giấy tờ. Trong khi đó, những người thực sự có liên quan có thể đứng phía sau hoặc tham gia vào hội đồng quản trị, trở thành cổ đông của ngân hàng hoặc doanh nghiệp.

Xử lý lợi ích nhóm, cho vay 'sân sau' thế nào?- Ảnh 1.

Sở hữu chéo, cho vay "sân sau" ngân hàng tồn tại nhiều năm (ảnh: N.H).

Điều này khiến việc nhận diện quan hệ liên quan không đơn giản nếu chỉ dựa trên hồ sơ pháp lý và thông tin do các bên tự kê khai.

Ông Hiếu cho biết, Ngân hàng Nhà nước từng yêu cầu các ngân hàng, cổ đông khai báo các mối quan hệ với những cổ đông khác cũng như với lãnh đạo ngân hàng. Tuy nhiên, trên thực tế rất khó yêu cầu các bên tự khai báo đầy đủ những mối quan hệ mà họ muốn che giấu.

"Họ dùng rất nhiều hình thức để che giấu sự liên kết với các cổ đông khác, vì vậy hiện tượng này không chấm dứt được”, ông Hiếu nói.

Theo ông Hiếu, việc quy định giới hạn tỷ lệ sở hữu tại ngân hàng là cần thiết nhưng chưa đủ. Nếu các nhóm cổ đông có thể sử dụng người đứng tên hộ hoặc xây dựng cấu trúc sở hữu phức tạp để lách quy định, việc kiểm soát trên giấy tờ sẽ khó phản ánh đầy đủ bản chất của quan hệ sở hữu và lợi ích.

Vì vậy, trọng tâm quản lý không chỉ là “ai đứng tên bao nhiêu phần trăm”, mà còn phải xác định ai là chủ sở hữu thực sự, ai có quyền chi phối và ai hưởng lợi từ khoản tín dụng.

Từ thực tế này, chuyên gia Nguyễn Trí Hiếu cho rằng, cần tăng mạnh chế tài đối với những trường hợp cố tình che giấu quan hệ sở hữu, quan hệ liên quan nhằm phục vụ việc cấp tín dụng.

“Nếu có những phát hiện như vậy thì Ngân hàng Nhà nước phải rất mạnh tay, thậm chí có thể rút giấy phép của các ngân hàng nếu họ có vi phạm, che giấu vấn đề các cổ đông có liên quan”, ông Hiếu đề xuất.

Chế tài phải đủ mạnh để không còn động cơ vi phạm

Cũng trao đổi với PV Tiền Phong, Luật sư Trương Thanh Đức - Trọng tài viên Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam cho rằng, các quy định về giới hạn cấp tín dụng, tỷ lệ sở hữu, người có liên quan… đã tương đối đầy đủ. Cơ quan quản lý, thanh tra và chính các ngân hàng cũng có nhiều thông tin để nhận diện những trường hợp có quan hệ lợi ích, sở hữu hoặc chi phối phía sau. Tuy nhiên, vấn đề nằm ở khả năng phát hiện, xác minh và xử lý trên thực tế.

“Cái gì được pháp luật cho phép thì nên công khai, minh bạch để thị trường giám sát. Còn những hành vi vi phạm, như cho vay sân sau, cho vay vượt giới hạn, cho vay không đủ điều kiện thì phải xử lý nghiêm”, ông Đức nói.

Xử lý lợi ích nhóm, cho vay 'sân sau' thế nào?- Ảnh 2.

Luật sư Trương Thanh Đức - Trọng tài viên Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam (ảnh: Phục Long).

Luật sư Trương Thanh Đức cho rằng, một trong những vấn đề cần xem xét là chế tài đối với hành vi vi phạm. Thay vì chủ yếu xử phạt hành chính với mức phạt thấp, có thể nghiên cứu các biện pháp mạnh hơn, tương xứng với lợi ích mà hành vi vi phạm mang lại hoặc mức độ rủi ro gây ra cho hệ thống.

“Ví dụ, nếu quy định chỉ được sở hữu 5% nhưng cố tình sở hữu 10% thì phần vượt quá phải được xử lý. Nếu cho vay vượt giới hạn thì mức phạt phải đủ lớn để không còn động cơ vi phạm. Chế tài phải khiến người vi phạm cân nhắc rất kỹ trước khi thực hiện”, ông Đức nói.

Theo ông Đức, nguyên tắc quan trọng là lợi ích thu được từ việc vi phạm không được lớn hơn chi phí phải gánh chịu khi bị phát hiện và xử lý. Nếu một hành vi có thể mang lại lợi ích rất lớn nhưng chỉ đối mặt với một khoản phạt tương đối nhỏ, chế tài sẽ khó tạo ra tác dụng phòng ngừa.

Những hành vi cố ý vi phạm quy định cho vay, nếu gây hậu quả nghiêm trọng, cần được xử lý tương xứng với tính chất và mức độ vi phạm. Đây cũng là một mắt xích quan trọng để hạn chế việc các quyết định tín dụng bị tác động bởi lợi ích của một nhóm cổ đông hoặc doanh nghiệp có liên quan.

“Cần quy định rõ hơn, hướng dẫn rõ hơn; phát hiện vi phạm thì phải xử lý đúng pháp luật, chặt chẽ và nghiêm khắc hơn. Mục tiêu cuối cùng là bảo đảm an toàn cho hệ thống ngân hàng và nền kinh tế”, ông Đức nhấn mạnh.

Ngày 18/9, Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Thắng ký quyết định phê duyệt Đề án “Tiếp tục hiện đại hóa hệ thống ngân hàng, xử lý các tổ chức tín dụng yếu kém, tăng cường khả năng tiếp cận vốn cho doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa”.

Đáng chú ý, Đề án đặt yêu cầu chấm dứt tình trạng cho vay tập trung vào một số doanh nghiệp, nhóm khách hàng lớn hoặc các dự án thuộc hệ sinh thái, “sân sau” của tập đoàn - những yếu tố có thể gây rủi ro, tiềm ẩn nguy cơ mất an toàn và lành mạnh của tổ chức tín dụng.

Bạn đang đọc bài viết "Xử lý lợi ích nhóm, cho vay 'sân sau' thế nào?" tại chuyên mục BẤT ĐỘNG SẢN.