Bộ Tài chính đang lấy ý kiến dự thảo Nghị quyết của Chính phủ về cắt giảm ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện. Trong số 58 ngành, nghề được đề xuất bãi bỏ điều kiện kinh doanh có lĩnh vực xuất khẩu gạo.
Đề xuất được đưa ra trong bối cảnh xuất khẩu gạo gặp khó. Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, 4 tháng đầu năm 2026, Việt Nam xuất khẩu 3,3 triệu tấn gạo, đạt 1,57 tỉ USD, giảm 2,3% về lượng và giảm 11,1% về giá trị so với cùng kỳ năm 2025.
Giá gạo xuất khẩu bình quân đạt 468,4 USD/tấn, tức khoảng 12.200 đồng/kg, giảm 9%.
Nông dân trồng lúa vẫn nghèo
Ông Phan Minh Thông, Tổng Giám đốc Công ty CP Phúc Sinh, nhiều lần phản đối giấy phép xuất khẩu gạo vì cho rằng cơ chế này tạo rào cản, phát sinh “xin - cho” và làm giảm động lực sáng tạo của doanh nghiệp.
Theo ông, giấy phép xuất khẩu đang tạo lợi thế cho một số doanh nghiệp lớn, khiến cạnh tranh thiếu bình đẳng. Nếu được tự do xuất khẩu, thị trường sẽ sôi động hơn và người nông dân hưởng lợi nhiều hơn.
Ông dẫn chứng nông dân trồng cà phê, hồ tiêu – những ngành xuất khẩu tương đối tự do – có đời sống khá giả hơn nhiều so với nông dân trồng lúa ở ĐBSCL.
Cùng quan điểm, ông Nguyễn Đình Tùng, Tổng Giám đốc Vina T&T, cho rằng khi nhiều doanh nghiệp được tham gia xuất khẩu, nhu cầu thu mua lúa tăng sẽ kéo giá lúa đi lên. Đặc biệt, các doanh nghiệp thương mại thường khai thác được những đơn hàng nhỏ nhưng giá trị cao.

Giấy phép xuất khẩu gạo là rào cản hay hàng rào bảo vệ ngành gạo?
Ông Lê Quốc Việt, Giám đốc HTX Nông dân sáng tạo (IFC), cho biết HTX hiện bán gạo tại nông trại với giá 30.000 – 55.000 đồng/kg, cao hơn nhiều so với mức giá xuất khẩu bình quân.
Theo ông, càng nhiều doanh nghiệp tham gia xuất khẩu thì nông dân càng có lợi vì giá bán cạnh tranh hơn. “Đơn vị nào làm ăn không uy tín sẽ tự bị đào thải. Việt Nam cũng không thiếu gạo vì các vùng luôn nối tiếp mùa thu hoạch” – ông nói.
Ông Phan Thành Bắc, Chủ tịch HĐQT HTX Sơn Hòa (An Giang), cho biết vụ Đông Xuân vừa qua, giá lúa xuống thấp khiến nhiều hộ thuê đất gần như hòa vốn; hộ có đất chỉ lãi khoảng 11-14 triệu đồng/ha sau 3 tháng canh tác.
Ông ủng hộ bỏ giấy phép xuất khẩu vì sẽ giảm thủ tục, giảm chi phí và giúp nhiều doanh nghiệp tham gia thị trường hơn, qua đó tăng cơ hội tiêu thụ lúa cho nông dân.
VFA lo cạnh tranh lệch chuẩn
Tuy nhiên, Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA) không đồng tình với đề xuất này.
Theo VFA, xuất khẩu gạo không phải là hoạt động thương mại thông thường mà là ngành hàng đặc thù, gắn trực tiếp với an ninh lương thực quốc gia, sinh kế của hàng triệu nông dân, ổn định kinh tế - xã hội và uy tín của Việt Nam trên thị trường quốc tế.
Việc bãi bỏ điều kiện kinh doanh trong xuất khẩu gạo có thể tạo ra sự bất bình đẳng nghiêm trọng giữa các doanh nghiệp. Trong nhiều năm qua, các doanh nghiệp xuất khẩu gạo đã đầu tư lớn vào hệ thống kho chứa, nhà máy xay xát, sấy, chế biến, kiểm soát chất lượng, tài chính và logistics.
Nếu bỏ điều kiện kinh doanh, các doanh nghiệp thương mại thuần túy, không có nền tảng vật chất và hệ thống kiểm soát chất lượng, vẫn có thể tham gia ký hợp đồng xuất khẩu, tạo ra cạnh tranh lệch chuẩn, chất lượng không bảo đảm và gia tăng nguy cơ ký hợp đồng vượt năng lực cung ứng, đầu cơ khi giá tăng và không thực hiện hợp đồng khi thị trường biến động bất lợi.

Gạo xuất khẩu đang có giá bình quân dưới 500 USD/tấn
VFA kiến nghị không nên bãi bỏ mà tiếp tục duy trì xuất khẩu gạo là ngành nghề kinh doanh có điều kiện, do đây là lĩnh vực đặc thù cần có khung quản lý phù hợp để bảo đảm kiểm soát, điều tiết được thị trường.
Đồng thời, cần sửa đổi các điều kiện kinh doanh theo hướng hiện đại, thực chất, tập trung vào các tiêu chí cốt lõi như: năng lực bảo đảm nguồn hàng thông qua hệ thống kho chứa, chế biến hoặc liên kết hợp pháp, năng lực tài chính đáp ứng hoạt động thu mua, dự trữ và thực hiện hợp đồng, hệ thống kiểm soát chất lượng và trách nhiệm đối với thị trường.
Hiệp hội cũng kiến nghị cần chuyển mạnh từ tiền kiểm sang hậu kiểm, tăng cường chế tài đối với các hành vi vi phạm như gian lận chất lượng, phá giá, không thực hiện hợp đồng quốc tế, nhằm bảo vệ uy tín gạo Việt Nam. Bên cạnh đó, cần khuyến khích các mô hình liên kết bền vững giữa doanh nghiệp, hợp tác xã và nông dân, phát triển vùng nguyên liệu ổn định, nâng cao chất lượng và giá trị gia tăng của sản phẩm.




